Nhắc đến Tây Nguyên, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến vùng cao nguyên nắng gió,
vùng núi rừng hùng vĩ hoang sơ mà thơ mộng. Tây Nguyên không chỉ đẹp về cảnh
vật thiên nhiên, mà đặc biệt hơn cả là vẻ đẹp của con người. Con người và thiên
nhiên nơi đây hòa quyện vào nhau tạo nên một nét đặc sắc riêng biệt. Sự
hình thành, tồn tại và phát triển của văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
gắn liền với rừng, với buôn, làng, nương rẫy, bến nước ... Sự gắn
kết hài hòa ấy là nền tảng để tạo nên một nền văn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc
dân tộc. Và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chính là một trong những
vẻ đẹp đáng tự hào đó.
Theo PGS.TS Nguyễn Chí Bền từng nhận xét: Cồng chiêng chính là một trong
những biểu tượng độc đáo của Tây Nguyên. Văn hóa cồng chiêng đã có thời kì phát
triển rực rỡ và cũng có giai đoạn mai một. Tuy nhiên, với những giá trị to lớn,
vượt qua nhiều thử thách, ngày 25 tháng 11 năm 2005, “Không gian văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên” đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật
thể của nhân loại. Đây vừa là niềm vui, vừa là niềm vinh dự hết sức lớn lao, nhưng
đồng thời cũng là một trách nhiệm
mà tổ chức UNESCO đã trao cho chúng ta, đó là: Phải bảo tồn và phát huy các giá
trị của kiệt tác truyền miệng và di sản văn hóa phi vật
thể này. Đây là công việc không chỉ riêng của Bộ văn hóa hay các cấp có thẩm
quyền mà còn là trách nhiệm của mọi công dân Việt Nam.
Vậy chúng ta cần làm gì để hoàn thành trách nhiệm đó?
Đã hơn 10 năm trôi qua kể từ khi UNESCO công nhận KGVHCC Tây Nguyên là Di sản văn hóa phi vật thể. Trong suốt thời gian đó, các cơ quan
quản lý, các tổ chức trong và ngoài nước cũng như các địa phương có di sản đã
không ngừng nỗ lực tổ chức những hoạt đồng nhằm chấn hưng, bảo tồn và phát huy
giá trị của di sản. Thực
tế công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của KGVHCC Tây
Nguyên đã đạt được một số thành tựu đáng
kể. Tuy nhiên bên cạnh đó, di sản KGVHCC
Tây Nguyên đang có xu hướng đời thường hóa và đối mặt với
nhiều nguy cơ như mất
dần “không gian” và “nhạc cụ”, ngoài ra KGVHCC Tây Nguyên còn đang đứng trước nỗi lo về sự “Tây
hóa”. Điều này xảy ra chính từ nhận thức chưa đầy đủ của người dân
Tây Nguyên – chủ thể của di sản văn hóa này.
Vì vậy việc giáo dục di sản cho thế hệ trẻ chính là một trong những phương thức hiệu quả để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật
thể. Nhiều người băn khoăn việc giáo dục bảo tồn di sản trong
trường học có khiến cho học sinh bị mệt? Đây không phải là học di sản mà sử
dụng di sản để dạy học. Thông qua việc vận dụng các giá trị
di sản để dạy học một cách linh hoạt, thú vị và tích hợp nhuần nhuyễn những giá
trị di sản ấy vào bài học để nâng cao nhận thức cho các em học sinh.
Đưa di sản văn hóa nói
chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng vào giới thiệu, giảng dạy trong
nhà trường là một trong những biện pháp thiết thực để giáo dục ý thức
đúng đắn cho thế hệ trẻ đối với việc bảo tồn di sản văn hóa. Đối với nhiều nước phát triển, việc
đưa di sản văn hóa phi vật thể vào dạy học, phục vụ học tập suốt đời không còn quá xa lạ. Nhưng đối với Việt Nam,
giáo dục di sản cũng như công tác đưa di sản văn hóa phi vật thể nói riêng vào
giới thiệu, giảng dạy trong nhà trường chỉ mới bắt đầu vài năm trở lại đây.
Việc giáo dục bảo tồn di sản văn hóa là một vấn đề quan trọng trong
trường THCS, vì đối tượng học sinh THCS là đối tượng đã và đang hình thành
những cảm nhận, suy nghĩ cá nhân, hình thành nhân sinh quan và cách thức giao
tiếp với xã hội. Các em là đối tượng cần được giáo dục lòng tự hào cũng như ý
thức, thái độ về vấn đề bảo vệ các di sản văn hóa của nhân loại nói chung và
của Việt Nam nói riêng.
Ánh Vân - Trà My

