Vùng văn hóa Tây Nguyên là vùng văn
hóa đậm đà bản sắc dân tộc, nên có thể khẳng định đây là nơi diễn ra rất nhiều
lễ hội truyền thống tiêu biểu mang đậm bản sắc riêng của các dân tộc ở 5 tỉnh
Tây Nguyên như: Lễ bỏ mả (Lễ Pơ thi), lễ cũng bến nước, lễ cầu mưa, lễ đâm
trâu, lễ mừng lúa mới, hội đua voi, hội xuân,…
1. Lễ bỏ mả (Lễ Pơ thi):
Dân tộc Gia Rai và một số dân tộc khác
ở Tây Nguyên như Ba-na, Ê-đê,… không có tục thờ tổ tiên. Thương tiếc người
chết, họ chỉ giữ gìn mồ mả một thời gian, sau đó sẽ tiễn đưa vĩnh viễn người
chết bằng lễ bỏ mả. Lễ được tiến hành vài ba năm sau khi người thân qua đời.
Đây là lần cuối cùng để tiễn đưa người chết về thế giới bên kia và là phần quan
trọng nhất trong tang lễ. Lễ bỏ mả được tổ chức rất trọng thể từ 2 đến 5 ngày
tại nghĩa địa, xung quanh nhà mồ vào sau mùa thu hoạch, lúc có trăng sáng.
Lễ bỏ mả là một lễ hội không chỉ mang
tính nghệ thuật cao mà còn đầy chất nhân văn: tái sinh cho người chết và giải
phóng cho người sống. Chất nhân văn còn được thể hiện rất linh động trong những
trường hợp do chôn chung nên phải sau nhiều năm mới làm lễ bỏ mả được ( chủ yếu
ở người Gia Rai ). Trong những trường hợp này, theo phong tục, từng gia đình
vẫn có thể làm lễ bỏ mả riêng ( lễ bỏ mả nhỏ ) trước khi có lễ bỏ mả chung để
được giải phóng khỏi mọi ràng buộc với người chết.
Tượng nhà mồ
Trong dịp lễ bỏ mả, đồng bào tạc tượng
nhà mồ. Tượng nhà mồ là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền Tây Nguyên. Trong
thời gian gần đây, truyền thống dựng nhà mồ-tượng mồ chỉ còn thấy tập trung ở
các dân tộc Ba na, Ê đê, Gia rai, Mnông, Xơ Đăng. Tượng mồ là loại tác phẩm
điêu khắc độc đáo bậc nhất của vùng đất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na
phong phú và đặc sắc hơn cả. Tượng nhà mồ được làm từ gỗ, bằng thủ pháp dùng
mảng khối, người tạc chỉ phác họa một vài chi tiết trên cơ thể mà làm cho bức
tượng trở nên sống động, như có hồn...
Đây là một trong những lễ hội mà cồng chiêng đóng vai trò
quan trọng trong buổi lễ. Các chiêng Cha, chiêng Mẹ và chiêng con trong bộ
chiêng đều được đem ra đánh. Buổi lễ kéo dài và rất trang trọng với tiếng cồng
chiêng ngân dài suốt buổi lễ. Trong lễ bỏ mả, cồng chiêng đóng một vai trò vô
cùng quan trọng mang ý nghĩa kết nối tâm linh.
2. Lễ đâm trâu:
Lễ đâm trâu được tổ chức vào dịp mừng
chiến thắng, mừng được mùa của cộng đồng, khánh thành nhà rông, lễ cầu an, mừng
năm mới, lễ phá điềm xấu, điềm gở cho cả buôn làng,… Cũng có khi chỉ do một gia
đình trong bản đứng ra tổ chức riêng đẻ tạ ơn thần nhưng tham gia vào lễ hội là
cả cộng đồng.
Lễ đâm trâu rất phổ biến ở nhiều dân tộc Tây
Nguyên và là một sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất, mang tính tổng hợp
cao. Nhiều loại hình nghệ thuật dân gian được huy động tham gia vào lễ hội như:
âm nhạc, cồng chiêng, múa hát, múa kiếm, nghệ thuật tạo hình,…Trong đó nhịp
cồng chiêng chậm rãi hay dồn dập cũng chính là yếu tố tạo nên nhịp độ tiết tấu
cho buổi lễ đâm trâu.
3. Lễ cơm mới:
Năm nào cũng thế, cứ sau khi thu hoạch
mùa màng, người Tây nguyên lại tổ chức lễ ăn cơm mới. Ý nghĩa của lễ hội này
chủ yếu để tạ ơn thần linh (Yang), đặc biệt là thần lúa. Đây cũng là dịp để bà
con cùng nhau họp mặt, chung vui với nhau sau một mùa rẫy vất vả, nhằn nhọc
nhưng đạt kết quả tốt.
Điều đặc biệt, mùa thu hoạch lúa của
các đồng bào dân tộc Tây Nguyên cũng trùng với dịp cuối năm âm lịch. Cách thức
tổ chức của bà con không diễn ra đồng loạt mà tuần tự từ nhà này sang nhà khác.
Việc tổ chức lễ ăn mừng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào vụ thu hoạch nhiều hay ít của
từng gia đình; cũng tùy vào đó mà thời gian có thể kéo dài một hay nhiều ngày.
Đây cũng là dịp gia chủ mời bà con, họ hàng, bạn bè các buôn lân cận cùng vui
chơi, ăn uống. Nhà nào có đông khách coi như là niềm vinh dự. Vì thế ngoài việc
cũng thần, hồn lúa và tổ tiên cùng với việc cầu mong sức khỏe cho gia đình,
người ta đánh cồng, chiêng, trống, vui chơi ca hát suốt nhiều ngày đêm liền. Lễ
ăn cơm mới kéo dài suốt tháng chạp sang tháng giêng – nó được ví như Tết nguyên
đán của người Kinh.
Đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên đánh cồng chiêng trong lễ cơm mới để tạ ơn thần linh đã cho một vụ mùa bội thu, đồng thời là dịp để vui chơi ca hát. Lễ cơm mới kéo dài bao lâu thì tiếng cồng chiêng cũng âm vang bấy lâu.
4. Hội đua voi ở Buôn Đôn:
Hội đua voi thường được tổ chức hàng
năm vào tháng 3 âm lịch tại Buôn Đôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sê – rê – pốk
( Đắk Lắk )
Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây
Nguyên, nó phản ánh tinh thần thượng võ của người M’Nông – một dân tộc giàu đức
tính dũng cảm, từng đối mặt với những tình huống hiểm nguy, căng thẳng trong
những cuộc săn bắt voi rừng. Khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên –
nơi diễn ra cuộc đua voi đặc sắc – đã làm tăng lên bội phần chất hùng tráng
trong ngày hội cổ truyền của họ.
5. Hội xuân:
Hội kéo dài chừng 2 đến 3 tháng, từ
ngày đưa lúa vào kho đến ngày sấm ran đầu mùa. Đó là thời gian tạm dừng việc
sản xuất để tham gia hội hè, thăm bạn bè,… Buôn làng được sửa sang khang trang. Buôn sóc nọ nối tiếp
buôn sóc kia, mở hội đâm trâu. Mọi người có dịp hòa mình vào không khí hội hè,
với những trò vui, diễn lại tích xưa từ thời Đông sơn, được tham dự những điệu
múa, lời ca nguyện với tiếng cồng chiêng hào hùng của những cư dân nơi miền
núi. Người dân Tây Nguyên rất hiếu khách, đón tiếp ân cần, nồng hậu, đầy tình
thân ái. Hội kéo dài từ tháng 10, tháng 11 đến tháng giếng, tháng 2 âm lịch.
Trà My - Ánh Vân



