Lịch sử hình thành và quá trình phát
triển của Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên:
Cồng chiêng có lịch
sử từ rất lâu đời, cách đây khoảng 3000 năm từ thời kì phát triển của đồng thau
tại vùng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Nghiên
cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô Vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú vị. Về
cội nguồn, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá - trước khi có văn hóa
đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo "quy trình tiến hóa"
cồng đá, chiêng đá, chiêng... tre, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng...
Cồng chiêng Tây
Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm
khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có
trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử
hơn 4.000 năm. Về lối đánh,
"rất nguyên thủy", người Tây Nguyên vẫn "mỗi người một
cái", chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc ở
Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến
phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là "vật tổ"); hình dáng cồng
chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc
tròn).
Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh
lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao
tiếp với siêu nhiên... âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng,
hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với
đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai
cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa
kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan... đều phải có tiếng cồng.
Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.
Theo quan niệm của
người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng
chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản
quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng
giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những
vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng
cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và
huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca
đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.
Cồng chiêng đã đi vào
sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy
đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho
gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng
luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh
cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho
ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào
hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên
ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San...”.
Cồng chiêng là loại
nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có
núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm,
loại cực đại từ 90cm đến 120cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng
theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.
Cồng chiêng không do
cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các
nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ. Phương pháp chỉnh sửa
chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình
độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh
trên mặt chiêng và trong không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ
nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng.
Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm
của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình
độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học).
Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.
Để đáp ứng các yêu
cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều
biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:
Dàn
chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế
này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên
chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3
cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng... cũng thuộc loại này.
Dàn
chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơ -
đăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc M’Nông; dàn
chiêng Diek của nhóm Kpạ người Ê - đê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih
thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng
núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Ê - đê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Ê - đê,
dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc M’Nông.
Dàn
chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Gia - rai (ngành Aráp), Ba - na
(ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơ - đăng (ngành Steng).
Các
dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm
choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của
người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.
Ở nhiều tộc người như
Churu, Xơ - đăng, M’Nông và đặc biệt tộc người Gia - rai, Ba - na, phụ nữ (nhất
là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng. Điều
đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn
tấu các bài cồng chiêng (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc
trình diễn giải trí). Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng
chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức và được coi như một
thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Như thế, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc
chiêng riêng. Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều công đoạn có nhạc chiêng
riêng: Người ngành Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài
nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông
mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt... Ngoài ra,
còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho
trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ...
Các bài chiêng cũng đạt đến một trình
độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi
nghi lễ: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt
thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã...
Trà My - Ánh Vân


