Bài Viết Mới Nhất

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên tại huyện Cư Kuin

Đồng bào dân tộc thiểu số tại Cư Kuin chủ yếu là đồng bào dân tộc Ê đê. Đồng bào Ê đê sống trong các buôn làng và gần gũi với thiên nhiên, vì vậy họ có những nét văn hóa rất đặc sắc và riêng biệt. Trong đó có văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Không gian văn hóa cồng chiêng của họ mang đậm bản sắc riêng của người Ê đê như: sự độc đáo của các bản nhạc chiêng, các bộ chiêng mang đặc trưng của dân tộc Ê đê, các lễ hội của người Ê đê, các phong tục và các không gian kiến trúc …

Hiện nay đồng bào dân tộc Ê đê trong huyện vẫn còn lưu giữ được một số nét văn hóa truyền thống đặc sắc của mình và vẫn duy trì một số lễ hội có sử dụng cồng chiêng như: Lễ cúng bến nước tại buôn H’ra Ea H’ning và H’ra Ea Tăl, xã Dray Bhăng; lễ cầu mưa tại buôn Kô Êmông, xã Ea Bhôk ... Tuy nhiên cũng không còn nhiều so với trước đây và đang ngày một mai một dần.
Ngoài ra, huyện Cư Kuin là một trong số những địa phương vẫn còn những nghệ nhân lớn tuổi có khả năng diễn tấu cũng như dạy đánh cồng chiêng, khả năng chỉnh chiêng và nhớ được các bản chiêng...Vì vậy việc bảo tồn Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên tại huyện Cư Kuin là một việc làm rất cần được sự quan tâm chung tay của các ban ngành đoàn thể và người dân.

Ánh Vân - Trà My



Tìm hiểu sơ lược về huyện Cư Kuin

Cư Kuin là một huyện thuộc tỉnh Đăk Lăk, cách trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột 19 km. Phía Đông giáp huyện Krông Păk và Krông Bông, phía Tây Nam giáp huyện Krông Ana và huyện Lắk, phía Bắc giáp thành phố Buôn Ma Thuột. Huyện được thành lập theo Nghị định số 137/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ Việt Nam về việc điều chỉnh địa giới hành chính. Là một huyện có gần 20 dân tộc chung sống, dân tộc tại chỗ là Êđê. Còn lại là dân tộc miền núi phía Bắc di cư vào. Tôn giáo: Thiên chúa giáo, phật giáo, tin lành, Cao Đài. Trình độ dân trí vẫn chưa đồng đều, do các điều kiện và phong tục khác nhau được hội tụ từ khắp đất nước. Giống như tỉnh Đắk Lắk, huyện tập hợp dân từ nhiều tỉnh thành từ nơi khác đến.

Trước đây, tại vùng này, người dân tộc Ê đê sống từ lâu đời trong các buôn làng, chủ yếu sống du canh du cư. Đất đai bạt ngàn với rừng đại ngàn cổ thụ cao lớn, ao hồ rộng lớn, địa hình khá hiểm trở, thú rừng chim chóc phong phú. Có một dãy đồi lớn trong đó có đỉnh Cư Kuin, thực vật nguyên sinh rất nhiều. Khoảng 1954 – 1956 một số hộ di dân từ miền Bắc vào hình thành dần các ngôi làng, sống láng giềng với các buôn người Ê đê. 
Ánh Vân - Trà My

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Tìm hiểu về các lễ hội có sử dụng cồng chiêng

Vùng văn hóa Tây Nguyên là vùng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, nên có thể khẳng định đây là nơi diễn ra rất nhiều lễ hội truyền thống tiêu biểu mang đậm bản sắc riêng của các dân tộc ở 5 tỉnh Tây Nguyên như: Lễ bỏ mả (Lễ Pơ thi), lễ cũng bến nước, lễ cầu mưa, lễ đâm trâu, lễ mừng lúa mới, hội đua voi, hội xuân,…
1. Lễ bỏ mả (Lễ Pơ thi):
Dân tộc Gia Rai và một số dân tộc khác ở Tây Nguyên như Ba-na, Ê-đê,… không có tục thờ tổ tiên. Thương tiếc người chết, họ chỉ giữ gìn mồ mả một thời gian, sau đó sẽ tiễn đưa vĩnh viễn người chết bằng lễ bỏ mả. Lễ được tiến hành vài ba năm sau khi người thân qua đời. Đây là lần cuối cùng để tiễn đưa người chết về thế giới bên kia và là phần quan trọng nhất trong tang lễ. Lễ bỏ mả được tổ chức rất trọng thể từ 2 đến 5 ngày tại nghĩa địa, xung quanh nhà mồ vào sau mùa thu hoạch, lúc có trăng sáng.
Lễ bỏ mả là một lễ hội không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn đầy chất nhân văn: tái sinh cho người chết và giải phóng cho người sống. Chất nhân văn còn được thể hiện rất linh động trong những trường hợp do chôn chung nên phải sau nhiều năm mới làm lễ bỏ mả được ( chủ yếu ở người Gia Rai ). Trong những trường hợp này, theo phong tục, từng gia đình vẫn có thể làm lễ bỏ mả riêng ( lễ bỏ mả nhỏ ) trước khi có lễ bỏ mả chung để được giải phóng khỏi mọi ràng buộc với người chết.


 Tượng nhà mồ 
Trong dịp lễ bỏ mả, đồng bào tạc tượng nhà mồ. Tượng nhà mồ là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền Tây Nguyên. Trong thời gian gần đây, truyền thống dựng nhà mồ-tượng mồ chỉ còn thấy tập trung ở các dân tộc Ba na, Ê đê, Gia rai, Mnông, Xơ Đăng. Tượng mồ là loại tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của vùng đất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc sắc hơn cả. Tượng nhà mồ được làm từ gỗ, bằng thủ pháp dùng mảng khối, người tạc chỉ phác họa một vài chi tiết trên cơ thể mà làm cho bức tượng trở nên sống động, như có hồn...
 Đây là một trong những lễ hội mà cồng chiêng đóng vai trò quan trọng trong buổi lễ. Các chiêng Cha, chiêng Mẹ và chiêng con trong bộ chiêng đều được đem ra đánh. Buổi lễ kéo dài và rất trang trọng với tiếng cồng chiêng ngân dài suốt buổi lễ. Trong lễ bỏ mả, cồng chiêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng mang ý nghĩa kết nối tâm linh.
2. Lễ đâm trâu:
Lễ đâm trâu được tổ chức vào dịp mừng chiến thắng, mừng được mùa của cộng đồng, khánh thành nhà rông, lễ cầu an, mừng năm mới, lễ phá điềm xấu, điềm gở cho cả buôn làng,… Cũng có khi chỉ do một gia đình trong bản đứng ra tổ chức riêng đẻ tạ ơn thần nhưng tham gia vào lễ hội là cả cộng đồng.

Lễ đâm trâu rất phổ biến ở nhiều dân tộc Tây Nguyên và là một sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất, mang tính tổng hợp cao. Nhiều loại hình nghệ thuật dân gian được huy động tham gia vào lễ hội như: âm nhạc, cồng chiêng, múa hát, múa kiếm, nghệ thuật tạo hình,…Trong đó nhịp cồng chiêng chậm rãi hay dồn dập cũng chính là yếu tố tạo nên nhịp độ tiết tấu cho buổi lễ đâm trâu.
3.  Lễ cơm mới:
Năm nào cũng thế, cứ sau khi thu hoạch mùa màng, người Tây nguyên lại tổ chức lễ ăn cơm mới. Ý nghĩa của lễ hội này chủ yếu để tạ ơn thần linh (Yang), đặc biệt là thần lúa. Đây cũng là dịp để bà con cùng nhau họp mặt, chung vui với nhau sau một mùa rẫy vất vả, nhằn nhọc nhưng đạt kết quả tốt.
Điều đặc biệt, mùa thu hoạch lúa của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên cũng trùng với dịp cuối năm âm lịch. Cách thức tổ chức của bà con không diễn ra đồng loạt mà tuần tự từ nhà này sang nhà khác. Việc tổ chức lễ ăn mừng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào vụ thu hoạch nhiều hay ít của từng gia đình; cũng tùy vào đó mà thời gian có thể kéo dài một hay nhiều ngày. Đây cũng là dịp gia chủ mời bà con, họ hàng, bạn bè các buôn lân cận cùng vui chơi, ăn uống. Nhà nào có đông khách coi như là niềm vinh dự. Vì thế ngoài việc cũng thần, hồn lúa và tổ tiên cùng với việc cầu mong sức khỏe cho gia đình, người ta đánh cồng, chiêng, trống, vui chơi ca hát suốt nhiều ngày đêm liền. Lễ ăn cơm mới kéo dài suốt tháng chạp sang tháng giêng – nó được ví như Tết nguyên đán của người Kinh.
Đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên đánh cồng chiêng trong lễ cơm mới để tạ ơn thần linh đã cho một vụ mùa bội thu, đồng thời là dịp để vui chơi ca hát. Lễ cơm mới kéo dài bao lâu thì tiếng cồng chiêng cũng âm vang bấy lâu.
4. Hội đua voi ở Buôn Đôn:
Hội đua voi thường được tổ chức hàng năm vào tháng 3 âm lịch tại Buôn Đôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sê – rê – pốk ( Đắk Lắk )
Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây Nguyên, nó phản ánh tinh thần thượng võ của người M’Nông – một dân tộc giàu đức tính dũng cảm, từng đối mặt với những tình huống hiểm nguy, căng thẳng trong những cuộc săn bắt voi rừng. Khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên – nơi diễn ra cuộc đua voi đặc sắc – đã làm tăng lên bội phần chất hùng tráng trong ngày hội cổ truyền của họ.

5. Hội xuân:
Hội kéo dài chừng 2 đến 3 tháng, từ ngày đưa lúa vào kho đến ngày sấm ran đầu mùa. Đó là thời gian tạm dừng việc sản xuất để tham gia hội hè, thăm bạn bè,… Buôn làng được sửa sang khang trang. Buôn sóc nọ nối tiếp buôn sóc kia, mở hội đâm trâu. Mọi người có dịp hòa mình vào không khí hội hè, với những trò vui, diễn lại tích xưa từ thời Đông sơn, được tham dự những điệu múa, lời ca nguyện với tiếng cồng chiêng hào hùng của những cư dân nơi miền núi. Người dân Tây Nguyên rất hiếu khách, đón tiếp ân cần, nồng hậu, đầy tình thân ái. Hội kéo dài từ tháng 10, tháng 11 đến tháng giếng, tháng 2 âm lịch. 


Trà My - Ánh Vân

Tìm hiểu sơ lược về vùng đất Tây Nguyên

Tìm hiểu sơ lược về vùng đất Tây Nguyên:
* Vị trí địa lí:
- Vị trí vùng Tây Nguyên:  nằm ở phía Tây vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích 54 475 Km2. Gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.
- Tây Nguyên gồm một loạt cao nguyên liền kề kéo dài từ núi Ngọc Lĩnh đến cao nguyên Di Linh, ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, gồm: Cao nguyên Kon Tum, Plâycu, Kon Plông, Kon Hà Nừng, M'Drăk, Buôn Ma Thuột, Mơ Nông, Lâm Viên, Di Linh.
+ Phía Bắc và phía Đông: giáp vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Phía Tây: giáp hạ Lào và CamPuChia.
+ Phía Nam: giáp vùng Đông Nam Bộ.
- Là vùng duy nhất không giáp biển. Nằm ở vị trí ngã ba Đông Dương, có ý nghĩa rất lớn trong phát triển kinh tế.
5 tỉnh Tây Nguyên

 Vị trí địa lí cao nguyên xếp tầng hiểm trở, giao thông đi lại còn khó khăn đã tạo nên bản sắc rất riêng của Tây Nguyên không bị hòa trộn với các vùng miền khác và các bản sắc văn hóa này đã được giữ lại qua rất nhiều thời kì. Đặc biệt là tỉnh Kon Tum – đã có thời điểm có ý kiến cho rằng Kon Tum dường như bị cô lập vì vị trí địa hình và giao thông khó khăn, nhưng cũng chính vì thế mà Kon Tum còn giữ được số lượng cồng chiêng khá lớn và văn hóa cồng chiêng tại Kon Tum vẫn giữ được bản sắc rất riêng.
* Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và sự đa dạng sinh học:
Tây Nguyên là  khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn.
- Đất bazan: 1,36 triệu ha, chiếm 66,6% so với cả nước.
- Rừng: Diện tích và trữ lượng lớn nhất cả nước, đa dạng và phong phú về các loài động thực vật.
- Nguồn nước: Tiềm năng thủy điện
- Khoáng sản: Bô xít có trữ lượng lớn
- Khí hậu: Cận xích đạo. Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên ở các cao nguyên cao 400–500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao.
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm. Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển tại đây. Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ.
- Tây nguyên có thể coi là mái nhà của miền trung, có chức năng phòng hộ rất lớn. Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chận được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm suy kiệt rừng và thay đổi môi trường sinh thái.
Vì vậy việc cần làm hiện nay:
- Bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững cho khu vực Tây Nguyên.
- Bảo vệ rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản. Có chính sách khai thác và phục hồi hợp lí.
- Chuyển dịch cơ cấu Nông – Lâm kết hợp.
Diện tích rừng lớn với số lượng các loài động thực vật phong phú đã tạo ra cho vùng Tây Nguyên sự đa dạng sinh học, hình thành những thói quen tập tục rất riêng gắn bó với thiên nhiên hoang dã; điều này ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa cộng đồng của dân tộc Tây Nguyên thông qua các lễ hội mừng lúa mới, lễ hội đâm trâu, lễ bỏ mả, lễ cúng tế …


Trà My - Ánh Vân

Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên:
Cồng chiêng có lịch sử từ rất lâu đời, cách đây khoảng 3000 năm từ thời kì phát triển của đồng thau tại vùng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
          Nghiên cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô Vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú vị. Về cội nguồn, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá - trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo "quy trình tiến hóa" cồng đá, chiêng đá, chiêng... tre, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng...
Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử  hơn 4.000 năm. Về lối đánh, "rất nguyên thủy", người Tây Nguyên vẫn "mỗi người một cái", chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc ở Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là "vật tổ"); hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn).



Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên... âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan... đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.
Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.
Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San...”.
Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.
Cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ. Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học). Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.
Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:
Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng... cũng thuộc loại này.

Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơ - đăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc M’Nông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Ê - đê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Ê - đê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Ê - đê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc M’Nông.
Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Gia - rai (ngành Aráp), Ba - na (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơ - đăng (ngành Steng).
Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.
Ở nhiều tộc người như Churu, Xơ - đăng, M’Nông và đặc biệt tộc người Gia - rai, Ba - na, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng. Điều đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc trình diễn giải trí). Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức và được coi như một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Như thế, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng. Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều công đoạn có nhạc chiêng riêng: Người ngành Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt... Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ...


Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã...

Trà My - Ánh Vân

Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

Thực trạng về công tác bảo tồn Không gian Cồng chiêng Tây Nguyên.

* Thực trạng về việc bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại tỉnh Đăk Lăk
Theo báo cáo của Sở VH-TT-DL, 2 giai đoạn bảo tồn, phát huy Di sản Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên (được HĐND tỉnh thông qua) đã làm được những việc như sau:
 Tỉnh đã xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án “Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Cồng chiêng Đắk Lắk”. Từ việc tổ chức các lớp truyền dạy đánh cồng chiêng cho thế hệ trẻ là con em đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa, đến nay toàn tỉnh đã xây dựng hơn 300 đội chiêng trẻ (từ 12 – 18 tuổi) với 2.100 em tham gia. Bên cạnh đó, hằng năm các huyện, thị xã, thành phố đều tổ chức ngày hội văn hóa cồng chiêng thu hút hàng trăm đội cồng chiêng, hàng nghìn nghệ nhân và cộng đồng buôn làng tham gia; các liên hoan dân ca, dân vũ, hoạt động “buôn vui chơi, buôn ca hát” cũng được tổ chức sôi nổi ở nhiều địa phương. Tỉnh cũng đã tổ chức nhiều đợt điều tra, khảo sát, thống kê các nghi lễ - lễ hội truyền thống liên quan đến không gian di sản văn hóa cồng chiêng của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; qua đó, một số nghi lễ - lễ hội được phục dựng, duy trì đều đặn như: lễ cúng bến nước; lễ kết nghĩa anh em; lễ cưới của người M’nông Gar tại huyện Lắk;  lễ ăn cơm mới của người Êđê ở huyện Krông Búk; cúng hồn lúa của người  Êđê tại huyện Krông Bông… Không chỉ bảo tồn văn hóa các dân tộc tại chỗ, một số địa phương cũng đã chú trọng đến các hoạt động lưu giữ, duy trì, phát huy những nét đẹp văn hóa của các cộng đồng dân tộc di cư từ phía Bắc như: Lễ hội văn hóa dân gian Việt Bắc ở xã Ea Tam (huyện Krông Năng), lễ hội văn hóa truyền thống các dân tộc phía Bắc ở xã Cư Pui (huyện Krông Bông), lễ hội khai hạ đầu năm của người Mường ở xã Hòa Sơn (huyện Krông Bông), Hòa Thắng (TP. Buôn Ma Thuột)…
Bên cạnh đó, công tác điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, biên dịch, xuất bản sử thi, truyện cổ, lời nói vần, nhạc cụ dân tộc… cũng được triển khai thực hiện hiệu quả. Đến nay, tỉnh ta đã sưu tầm và thống kê được trên 70 sử thi Êđê, 145 sử thi M’nông, 7.500 trang truyện cổ Êđê, 9.000 trang truyện cổ M’nông; biên dịch và xuất bản 12 tập truyện cổ Êđê, 8 truyện cổ M’nông; sưu tầm được hơn 50 loại nhạc cụ dân tộc Êđê, M’nông, đồng thời phục hồi, chế tác đưa vào sử dụng hơn 20 loại nhạc cụ tiêu biểu... Ngoài ra, ngành văn hóa tỉnh còn phối hợp với các viện nghiên cứu triển khai các đề tài khoa học sưu tầm, nghiên cứu về ngôn ngữ các dân tộc; các làn điệu dân ca, dân vũ; trang phục đồng bào các dân tộc; văn hóa ẩm thực; làng nghề truyền thống…
Tỉnh đã tổ chức 2 cuộc Liên hoan Văn hóa Cồng chiêng cấp tỉnh, 3 cuộc liên hoan văn hóa Cồng chiêng, nhạc cụ dân gian cấp cơ sở. Mỗi cuộc liên hoan có từ 1.200 đến 1.500 nghệ nhân và từ 30 đến 35 đội cồng chiêng thuộc các dân tộc Ê Đê, M’Nông, J’rai, Sê Đăng tham gia; đồng thời thu hút hàng ngàn đồng bào các dân tộc trong tỉnh đến xem và cổ vũ. Nhờ đó đã góp phần tôn vinh văn hóa cồng chiêng, tôn vinh các nghệ nhân trình diễn cồng chiêng; nâng cao lòng tự hào dân tộc, giáo dục ý thức gìn giữ các giá trị văn hóa cồng chiêng, không gian văn hóa
Bên cạnh đó còn có những tồn tại như:
- Việc sưu tầm, chỉnh lí các bài chiêng (cổ và mới) để làm căn cứ bảo tồn, phát triển còn bỡ ngỡ.
- Mất dần những nghệ nhân – người nắm giữ nhịp sống của cồng chiêng trong các buôn làng.
- Việc bảo tồn, giữ gìn Không gian văn hóa và địa điểm các lễ hội vẫn chưa được quan tâm, triển khai đúng mức.
* Thực trạng về việc bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại huyện Cư Kuin
Hằng năm UBND huyện đều phối hợp với các ngành liên quan tổ chức truyền dạy đánh chiêng cho thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, như: phối hợp với Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức 1 lớp dạy đánh chiêng tại buôn H’ra Ea H’ning (xã Đray Bhăng) cho 10 học viên (2010); phối hợp với Sở VH-TT-DL mở 4 lớp tại xã Ea Ktur với 40 học viên (2013) và 3 lớp với 30 học viên (2014)… Chú Nguyễn Thanh Hải, cán bộ Phòng Văn hóa – Thông tin (VH-TT) huyện cho biết, từ năm 2010 đến nay, huyện đã tổ chức và phối hợp tổ chức được 10 lớp truyền dạy đánh chiêng với sự tham gia của 110 học viên và 10 nghệ nhân truyền dạy, nâng tổng số người biết đánh chiêng trên địa bàn huyện lên 150 người, trong đó có 22 nghệ nhân biết chỉnh chiêng; thành lập 12 đội chiêng trẻ và 16 đội chiêng nghệ nhân lớn tuổi.

Hình 4 - Lớp học đánh chiêng của các em thiếu nhi người Êđê tại buôn Huê, xã Ea Ktur.

Ngày 22/6/2017, tại buôn Pứk Prông, xã Ea Ning, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cư Kuin phối hợp với chính quyền địa phương đã tổ chức khai giảng lớp truyền dạy đánh cồng chiêng cho thanh thiếu nhi đồng bào dân tộc thiểu số của xã. Tham gia lớp học có 23 học viên và 03 nghệ nhân truyền dạy đánh chiêng trên địa bàn.


Hình 5- Các em thiếu nhi buôn Hra Ea Hing, xã Dray Bhang (huyện Cư Kuin) học đánh cồng chiêng tại nhà cộng đồng.
* Bên cạnh đó còn có những tồn tại như:
- Việc sưu tầm, chỉnh lí các bài chiêng (cổ và mới) để làm căn cứ bảo tồn, phát triển còn nhiều bỡ ngỡ.
- Mất dần những nghệ nhân già – người nắm giữ nhịp sống của cồng chiêng.
Trước đây, tại xã Ea Bhôk hằng năm, có tổ chức lễ cầu mưa và sử dụng cồng chiêng nhưng trong hai năm qua do nghệ nhân chịu trách nhiệm làm lễ đã qua đời nên lễ cầu mưa đã không được tổ chức nữa. Hiện nay, tại buôn Pu Huê vẫn còn có đội cồng chiêng trẻ nhưng không còn các lễ hội.
- Việc bảo tồn, giữ gìn Không gian văn hóa và địa điểm các lễ hội vẫn chưa được quan tâm, triển khai đúng mức. Tại bến nước của buôn Hra Ning, thuộc xã Đray Bhăng, công tác bảo quản chưa thật sự tốt.
                            
    



 

















                Quang cảnh nơi làm lễ cúng bến nước của Buôn Hra Ning – Đray Bhăng


Đứng trước những việc ấy chúng ta cần phải có sự quan tâm và những góp ý, ý kiến của mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ bây giờ - những người trong tương lai sẽ nắm giữ đất nước trong quá trình bảo tồn, phục dựng và phát triển Không gian văn hoá Cồng Chiêng Tây Nguyên.



                                                                                         Trà My - Ánh Vân

View AllBlogger Template